Thứ bảy, ngày 19 tháng 9 năm 2026
Thứ bảy, ngày 19 tháng 9 năm 2026

Thay đổi cách nhìn và chiến lược đối với FDI

VOV.VN trên Google News

Theo chuyên gia kinh tế tài chính Bùi Kiến Thành, thay vì thúc đẩy kêu gọi đầu tư trực tiếp, Việt Nam cần nhanh chóng tổ chức hệ thống các quỹ đầu tư gián tiếp.

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép trong năm 2008 là khoảng 64 tỷ USD. Năm 2009 lượng vốn FDI sẽ giảm, nhưng sau khi nền kinh tế được phục hồi, lượng FDI sẽ tăng trở lại. Trong 10 năm tới tổng số FDI có khả năng đạt mức 500 đến 600 tỷ USD.

Cần thúc đẩy đầu tư gián tiếp

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, thay vì thúc đẩy kêu gọi đầu tư trực tiếp, Việt Nam cần nhanh chóng tổ chức hệ thống các quỹ đầu tư gián tiếp, tại các thị trường tài chính quốc tế lớn, huy động vốn với số lượng lớn, có thể là 5 đến 10 tỷ USD mỗi năm, 50 đến 100 tỷ USD trong 10 năm sắp tới, để đưa về đầu tư phát triển những dự án tốt do chúng ta quản lý.

GDP của Việt Nam năm 2008 được ước tính khoảng 91 tỷ USD và tỷ lệ đầu tư là 44,5% GDP, tức là khoảng 41 tỷ USD gồm cả đầu tư của Chính phủ và tư nhân. Với đà phát triển giả định là 5% mỗi năm, thì tổng số nguồn vốn đầu tư nội địa sẽ đạt đến con số khoảng 400 đến 500 tỷ USD trong 10 năm tới, và phần đầu tư tư nhân sẽ chiếm khoảng 250 tỷ USD.

“Theo chiều hướng này thì vốn FDI sẽ chiếm tỷ lệ áp đảo trong tổng số vốn đầu tư sản xuất kinh doanh. Và Việt Nam đứng trước nguy cơ mất chủ quyền kinh tế” – ông Thành nói.

Chia sẻ quan điểm này, chuyên gia kinh tế cao cấp Lê Đăng Doanh cho rằng: “Nếu chúng ta có một hệ thống tài chính hữu hiệu thì hoàn toàn có thể làm được. Các quỹ hấp dẫn, quản lý tốt thì các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư vào”.

Theo ước tính trên, trong 10 năm tới Việt Nam cần khoảng 750 đến 1.000 tỷ USD để phát triển. Phần tiết kiệm nội địa nhàn rỗi để đầu tư ước tính khoảng từ 30 đến 40%, phần còn lại từ 60 đến 70% là đầu tư nước ngoài.

Trên thực tế, trong tổng số vốn đầu tư cho một dự án thì khoảng 70 đến 80% là vốn vay, phần vốn tự có thường chỉ chiếm từ 20 đến 30%. Vậy trong số 500 - 600 tỷ USD đầu tư nước ngoài nói trên, phần vốn tự có ước tính khoảng 150 tỷ USD. Nếu Việt Nam tự huy động được 50 đến 100 tỷ USD vốn tự có, tự xây dựng và phát triển dự án, thì lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giảm xuống đến một mức tương đối an toàn. Việc này ta hoàn toàn có khả năng thực hiện được.

“Vấn đề là Việt Nam có nhất thiết phải phát triển theo mô hình kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến mức này hay không?” – ông Bùi Kiến Thành đặt vấn đề.

Chiến lược thu hút đầu tư mới

Theo ông Bùi Kiến Thành, các nhà đầu tư nước ngoài không nhất thiết phải tự mình xây dựng dự án, làm chủ dự án, phát triển dự án. Quỹ đầu tư là phương tiện để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư “thụ động” của phần lớn các nhà đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, vì khung pháp lý của Việt Nam chưa đủ bảo đảm cho quyền lợi của nhà đầu tư, nên các quỹ này cần phải được thành lập ở một nước ngoài với hệ thống luật pháp được quốc tế chấp nhận.

Đề cập một “cái bẫy” mới về FDI, phát triển kinh tế sau khủng hoảng, TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, sẽ có những xu thế di chuyển quan trọng. Trong đó cần phải kể đến là sự di chuyển công nghệ thấp đến các nước đi sau kém phát triển. “Đây là điểm Việt Nam phải đặc biệt cảnh giác, nếu không có định hướng rõ thì chúng ta sẽ bị mê hoặc bởi giá cả “cho không” vì phía sau giá rẻ của công nghệ thấp, là nguồn nhân lực chất lượng thấp, sẽ là thảm hoạ lâu dài cho quốc gia và dân tộc”.

Chính vì vậy, ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho rằng, Việt Nam cần có chiến lược thu hút đầu tư mới. Bởi lẽ sau khủng hoảng mọi việc sẽ không còn như cũ. Sau khủng hoảng nhu cầu tiêu dùng hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục yếu đi. Đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam cũng sẽ bị chia sẻ, giảm đi do cơ hội đầu tư vào các nước tương đối rộng.

Còn TS Đinh Văn Ân - Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương thì phân tích, do giảm sút về xuất khẩu, tăng trưởng GDP, “sau khủng hoảng nước ta rất dễ rơi vào tình trạng thiếu vốn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội”. Những năm trước đây, môi trường kinh tế thế giới không quá khó khăn, nguồn vốn đầu tư tương đối dồi dào trong khi tỷ suất lợi nhuận ở các thị trường phát triển đã gần như bão hòa, nên các nguồn vốn FDI đã đổ vào nước ta khá nhiều nhằm tìm kiếm cơ hội sinh lời.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã khiến các nhà đầu tư quốc tế cũng có xu hướng rút vốn về các nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ, nhằm bảo toàn vốn. Theo ông Phan Hữu Thắng - Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch-Đầu tư), do tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm cho dòng vốn FDI suy giảm đáng kể so với năm 2008 – năm có mức tăng đột biến về FDI.

Phân tích rõ hơn về việc “chiếm dụng vốn” và “mặt trái” của các nhà đầu tư nước ngoài, các chuyên gia kinh tế cho rằng, nhiều nhà đầu tư nước ngoài thay vì đưa vốn từ nước ngoài vào Việt Nam lại huy động vốn ngay trên thị trường nội địa để thực hiện dự án đầu tư. Điển hình nhất là các dự án xây dựng căn hộ, khu đô thị. Các nhà đầu tư nước ngoài cạnh tranh, hút mất số vốn đầu tư mà đáng lẽ phải dành cho các doanh nghiệp trong nước. Vì vậy, vốn cho các doanh nghiệp trong nước đã khan hiếm lại càng khan hiếm hơn; gây thêm trở ngại cho phát triển của khu vực kinh tế trong nước./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Thêm VOV trên Google
Chọn VOV làm nguồn ưu tiên trên Google Search. Xem hướng dẫn.
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.