Nơi chuyến hàng đầu tiên vượt Trường Sơn vào Nam
Phóng viên VOV có dịp theo các già Hồ So, Hồ Thanh, xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị về thăm Khe Hó, trạm tập kết hàng đầu tiên của đường mòn Hồ Chí Minh, ở tây nam huyện Vĩnh Linh.
Đường mòn Trường Sơn trở thành con đường huyền thoại của lịch sử dân tộc, không chỉ bởi chiều dài của nó vượt đại ngàn miền Trung, mà nghị lực lao động, tinh thần chiến đấu, hy sinh của hàng chục vạn con người mở đường, đã trở thành biểu tượng sâu sắc của lòng yêu nước.
Những ngày kỷ niệm 50 năm đường Trường Sơn huyền thoại, Bản Khe Hó cách trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Hà, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị hiện nay chừng 12 km, nhưng muốn đến phải mất ngót 4 giờ đi bộ, vượt qua nhiều đoạn đường đất lầy lội, dốc cao, suối sâu. Già làng Hồ Thanh chặt mấy đoạn thân cây to bằng ngón chân cái, dài và thẳng đưa cho chúng tôi, rồi vừa đi vừa hát bài “Chiếc gậy Trường Sơn”, giọng ca khàn khàn, nhưng trầm hùng, sôi nổi của ông vang vọng giữa núi rừng, rạo rực hào khí của một thời xẻ dọc Trường Sơn đánh Mỹ.
Còn già làng Hồ So, nguyên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Hà, nay là Bí thư Chi bộ thôn Khe Hó theo sau, vừa đi vừa kể rành rọt từng tên người, tên đất, từng sự kiện. Bước chân của ông đã quá đỗi quen thuộc với lối đi ngoằn ngoèo, từng in dấu chân hàng ngàn, hàng vạn cán bộ, chiến sỹ, thanh niên xung phong vào ra đánh Mỹ.
Già làng Hồ So nói: “Từ Khe Hó này, quân dân và dân ta đã vận chuyển hàng đi theo 3 đường chính: Tuyến thứ nhất từ Khe Hó đến Khe Che, tuyến thứ 2 từ từ Khe Hó đến Vĩnh Ô, qua đường 9 và tuyến thứ 3 từ đây đi lên đường 20- Hồ Chí Minh…”
Điểm tiếp giáp của đường mòn 559 bí mật giữa miền Bắc và miền Nam lúc ấy là một lạch nước sâu, nhỏ dưới chân dãy núi Động Nóc thuộc xã Vĩnh Hà, được gọi là Khe Hó, nơi có bản của đồng bào Vân Kiều. Già làng Hồ Liệc, nguyên Xã đội phó, trực tiếp chỉ huy du kích chiến đấu bảo vệ con đường và kho tàng, hàng hóa… nhớ lại: “Cả bản Khe Hó ngày ấy chừng 40 hộ dân với gần 300 nhân khẩu, mỗi người đảm nhận một nhiệm vụ. Thanh niên thì đào hầm, mở đường, người già thì nấu ăn, trẻ con làm liên lạc...”
Những năm 1956-1958, trước khi bí mật mở đường mòn 559, bà con bản Khe Hó, đã cùng cán bộ, chiến sĩ các lực lượng công an, bộ đội, giao liên lần tìm các lối mòn để nối liên lạc giữa miền Bắc với vùng chiến khu Quảng Trị, Thừa Thiên, rồi từ đó chuyển công văn, báo cáo, chỉ thị vào ra các chiến trường khác. Từ điểm đầu đường mòn 559 bí mật sát với bản Khe Hó cũ, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Thượng tá Võ Bẩm, Đoàn trưởng Đoàn 559 ngày đó, con đường được phát triển theo hướng tây nam, vượt sông Bến Hải, qua đỉnh Voi Mẹp, xã Hướng Hiệp, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Rồi từ Voi Mẹp, Đoàn tiếp tục mở lối mòn sang Rào Quán, vượt đường 9 (Hướng Hóa), đến Pa Lin (tây nam Thừa Thiên-Huế)... Ngày 13/8/1959, chuyến hàng đầu tiên của Đoàn 301 và Đoàn 559, xuất phát từ điểm đầu Khe Hó, đã chính thức vượt Trường Sơn, sau 8 ngày đêm vào đến đất Tà Riệp- bắc A Lưới an toàn, kịp thời chi viện cho chiến trường miền Nam...
Ông Nguyễn Đức Tấn, nguyên là Chiến sĩ Trinh sát Bộ đội Trường Sơn thời kỳ đầu, nhớ lại: “Khi đi qua đường 9 phải chui dưới cống hoặc đi trên đất liền, mà nếu đi trên đất liền thì phải lấy ni lông trải trên cỏ để đi khỏi giẫm phải cỏ, sau đó lại thu hồi. Chở một chuyến hàng vượt qua đường 9 này thường phải đi mất 2 đêm, quy định tháng này đi ngày chẵn, tháng sau đi ngày lẻ hoặc là nửa tháng đầu đi ngày lẻ, nửa tháng sau đi ngày chẵn. Thay đổi quy ước này để đảm bảo an toàn thống nhất giữa lực lượng trinh sát, giao liên dẫn đường và lực lượng đưa khách từ ngoài Khe Hó cũng như phối hợp chặt chẽ với các Trạm miền Nam để ra đón”.
Bản Khe Hó cũ bây giờ rừng tràm xanh bạt ngàn. Trong trí nhớ của già làng Hồ Thanh, những năm tháng bộ đội, thanh niên xung phong chọn bản làng làm căn cứ phục vụ việc mở đường mòn Trường Sơn bí mật còn in đậm những kỷ niệm không thể nào quên. Mỗi lần kể, bao giờ cũng thế, tay Già chỉ ra phía góc rừng tràm, ở đó còn sót lại duy nhất gốc cây mít cổ thụ gồ ghề dày đặc những vết sẹo. “Lúc vắng máy bay thằng Mỹ, bộ đội, thanh niên xung phong mắc võng ở đó nghỉ ngơi. Nhưng rồi loạt bom B52 đã bất ngờ cắt ngang 4 nhánh cây lớn, làm 5 người hy sinh, trong đó có 2 nữ thanh niên xung phong. Từ đó về sau, không thấy cây mít ra hoa, trái nữa, nhưng nó không chết cho dù hứng chịu thêm biết bao mảnh bom đạn găm chằng chịt vào thân cây”... Đôi bàn tay chai sần, sạm nắng gió vuốt ve thân mít, già làng Hồ Thanh hồi tưởng về một thời oanh liệt, hào hùng...
Bản Khe Hó hiện có 39 hộ dân với gần 300 nhân khẩu. Mười năm trở lại đây, không ít gia đình đã vươn lên làm giàu. Bên bếp lửa nhà sàn, mẹ Giã Vồn nay đã 97 tuổi, bồi hồi nói “Bao nhiêu người chiến đấu, gìn giữ từng tấc đất cho quê nhà, đã hy sinh không nhìn thấy quê hương thanh bình như hôm nay, nhưng với mẹ, không ai mất đi!”
Rời Khe Hó một thuở anh hùng, tôi mang theo băn khoăn của già Hồ So: “Hơn 30 năm qua, Khe Hó vẫn chưa có lấy một tấm bia di tích, cho dù chỉ là biển báo. Điều này khiến không chỉ người dân địa phương, mà những ai từng tham gia chiến đấu ở nơi này đều rất trăn trở”.
“Mảnh đất này cùng sự hy sinh của biết bao thế hệ bộ đội, thanh niên xung phong, bà con dân bản không bao giờ mất đi”, già làng Hồ Thanh chỉ tay chỗ vệt mòn cũ như sợi chỉ màu xám chạy len lõi dưới tán cây rừng, nói với vẻ tự hào, kiêu hãnh…/.

